Thứ Hai, ngày 06 tháng 2 năm 2012

Giới thiệu truyện ngắn của M.Gorki.

Trong lịch sử văn học Nga – Xô Viết, văn hào M.Gorki có một vị trí đặc biệt. Ông là người khai sinh, là bậc thầy của văn học Nga – Xô Viết. Với toàn bộ tác phẩm của ông, văn học Nga trở thành ngọn cờ đầu của văn học thế giới đương đại trong công cuộc thức tỉnh và đấu tranh giải phóng nhân loại cần lao khỏi ách áp bức thống trị của chủ nghĩa tư bản. Ông cũng là người tạo ra những bước ngoặt mới trong tiến trình văn học thế giới hiện đại. Bút pháp của Gorki rất độc đáo, đặc biệt là trong các truyện ngắn, có tác phẩm lãng mạn, rất lãng mạn; có tác phẩm hiện thực, rất hiện thực; có tác phẩm có cả 2 yếu tố vừa lãng mạn vừa hiện thực.
1. Truyện ngắn lãng mạn:
Viết những tác phẩm lãng mạn, Gorki đã kế thừa truyền thống lãng mạn tiến bộ của các nhà văn nổi tiếng như Puskin, Lermentov…Ngay từ nhỏ Gorki cũng rất say mê các nhân vật lãng mạn, sôi nổi chan chứa khát vọng tự do trong sáng tác của Sile, Bairơn. Nhưng quan trọng hơn hết là ông đã tiếp thu sâu sắc sức sống mãnh liệt, bất khuất, luôn vươn dậy mạnh mẽ của nhân dân, biểu hiện trong những truyền thuyết, cổ tích…
Hơn nữa trong những năm 90 giai cấp vô sản Nga đã bắt đầu bước lên vũ đài chính trị nhưng đây chỉ mới là “buổi bình minh của phong trào”. Lúc này ”những cán bộ đầu tiên của giai cấp chiến đấu tương lai mới bắt đầu hình thành và những khối óc đang bị xâm chiếm với những tư tưởng đấu tranh còn lờ mờ, tản mạn”. Gorki muốn thổi vào những con người héo hon, tàn tạ, tầm thường, dung tục xung quanh mình bằng những lời văn hùng tráng, chấp cánh cho tâm hồn để “khích lệ con người đã bị cuộc sống dơ bẩn làm nhục chí và đẩy vào cảnh sa đoạ” (truyện Người độc giả, 1894). Từ đó cảm hứng chủ đạo nổi bật trong các tác phẩm lãng mạn của ông là ca ngợi tự do, ca ngợi chiến công, ca ngợi những con người tràn đầy ý chí bất khuất, chiến đấu và chiến thắng, ca ngợi cuộc sống anh hùng, thi vị hoá ý chí sáng tạo của con người.
Truyện ngắn Makar Tsudra (1892) là khúc ca bi tráng về ý chí tự do bất khuất của con người. Sự xung đột giữa tình yêu và tự do của đôi trai tài gái sắc Lôikô Zôbar và Radda đã dẫn đến cái chết đầy bi kịch lãng mạn của đôi trai gái xứ Xưgan. Họ yêu nhau tha thiết nhưng họ còn yêu tự do hơn. Họ chết một cách bất khuất và kiêu hãnh với ý thức rằng không thể tiếp nhận hạnh phúc của tình yêu mà phải đổi bằng sự phục tùng nô lệ. Cái chết của họ là sự lựa chọn tự do. Tự do đối với họ cao hơn tình yêu và tình yêu chỉ làm nền cho việc khác đó là tự do. Tự do đã được đánh đổi rất đắt, máu đã phải đổ để tự do được chiến thắng. Đây là cảm hứng rất mới mẻ. Tiếng nói của thời đại lúc này là những bản hùng ca chứ không phải là tình ca. Cái chết của họ là sự chứng minh cho hành động cao đẹp: đặt cộng đồng lên trên hạnh phúc nhỏ bé của mình.
Truyện Nàng tiên nhỏ bé và chàng chăn cừu (1892, về sau tác giả cho in bài thơ rút trong tập này với nhan đề Truyền thuyết về Marco) nói về mối tình của chàng chăn cừu và nàng tiên nhỏ bé trong rừng rậm. Chàng là con người luôn gắn liền với thảo nguyên lộng gió, bao la, chan hoà ánh nắng của “Thảo nguyên thân yêu! bốn bề tít tắp; Cỏ mọc tràn lan ngời ngời trắng bạc; Giá tự do xoè rộng cánh tung bay; Cùng thảo nguyên âu yếm vui chơi…”. Chàng sung sướng khi thấy những tia chớp xé rách bầu trời nặng trĩu, báo hiệu cơn bão táp sắp đến. Chàng reo lên “chẳng có gì mạnh mẽ và đẹp hơn bão táp!” Cái chất lãng mạn “thảo nguyên” đó của chàng hoàn toàn đối lập với cuộc sống “rừng rậm”của nàng tiên nhỏ bé. Cái lãng mạn đã thi vị hoá cuộc sống tư tưởng ngột ngạt tăm tối trong rừng rậm. Và nàng tiên nhỏ bé đã chết sau khi đem lòng yêu chàng chăn cừu trẻ tuổi bởi vì nàng chỉ quen sống trong thế giới yên tĩnh, chật hẹp, đã không chịu nổi không khí đấu tranh và tự do của đồng cỏ bao la.
Truyện Bà lão Izecghin (1894) là tác phẩm lãng mạn xuất sắc nhất trong sáng tác thời kì đầu của Gorki. Truyện nói lên mục đích, ý nghĩa cuộc đời của con người thông qua việc giới thiệu những quan niệm sống và lối sống khác nhau. Truyện gồm 3 phần: Truyền thuyết Lara, hồi ức của Izecghin, về tuổi trẻ của bà cách khoảng 50 năm, và truyền thuyết về ĐanKô. Ba phần này không phải là sự lắp ghép, rời rạc nhau mà hoà quyện vào nhau tạo nên một chân lí nghệ thuật đẹp đẽ, đầy sức thuyết phục. Phần đầu truyện nói về một thanh niên kiêu ngạo, ích kỉ, tàn bạo tên là Lara ( Lara tiếng Nga nghĩa là  bị ruồng bỏ, bị xua đuổi) – con trai chim đại bàng và một cô gái bị con ác điểu bắt lên núi – Lara  có sức mạnh phi thường. Đó là sức mạnh của chủ nghĩa cá nhân, tách rời nhân dân và chống lại xã hội. Lara gây nhiều tội ác và nó bị trừng phạt là phải sống cuộc đời cô đơn, lang thang, không có cuộc sống và cũng không có cái chết. Trong cuộc đời con người không có gì khổ hơn là bị tách khỏi cộng đồng.
Ngược lại với Lara là Đankô (phần thứ ba), một con người vị tha cao đẹp. Trong giờ phút nguy kịch của bộ lạc anh đã dám xả thân vì nghĩa lớn, giương cao trái tim nóng hổi của mình làm “bó đuốc của tình yêu vĩ đại đối với con người”, đưa cả tập thể mở đường xuyên qua rừng rậm dày đặc bóng tối ảm đạm, nồng nặc hơi bùn vữa thối, vượt ra với thảo nguyên thanh bình tự do và ngời ngời ánh sáng. Anh dám băng lên trước nguyện làm người chiến sĩ tiền phong vì anh có niềm tin mãnh liệt rằng cái rừng ngột ngạt kia nhất định phải có chỗ tận cùng, kết thúc.
Cuộc đời bà lão Izecghin có những điểm chung với hai nhân vật của truyền thuyết: bà vừa gần gũi với nhân dân lao động (Đankô) lại vừa sống cho niềm vui hạnh phúc bản thân (Lara). Bà phê phán những kẻ lười biếng, hèn nhát. Bà ca ngợi những người anh hùng biết lập chiến công. Bà đã lấy cả đời mình và đi khắp nơi để tuyên truyền lí tưởng anh hùng của mình.
Ba phần của truyện với ba cuộc đời khác nhau của các nhân vật có thật và truyền thuyết hợp thành một chỉnh thể nghệ thuật, và dạy cho con người những bài học bổ ích về lẽ sống. Đồng thời tác phẩm cùng tập trung thể hiện một chủ đề: biểu dương người anh hùng xuất thân từ nhân dân, chiến đấu vì tự do hạnh phúc của nhân dân.
Truyện ngắn Bài ca con chim ưng (1895) là một bản tuyên ngôn cách mạng sinh động. Hình ảnh chim ưng dũng cảm, coi hạnh phúc chân chính là ở cuộc đấu tranh sinh tử với kẻ thù vì tự do. Qua lời chim ưng “Ta đã sống thật vinh quang! Ta đã biết thế nào là hạnh phúc!…Ta chiến đấu dũng cảm!..Ta đã trông thấy bầu trời!”, người đọc tự võ trang cho mình một nhân sinh quan cách mạng: Hạnh phúc là trong chiến đấu, vinh quang là trong chiến giành tự do và ánh sáng. Những lời của sóng biển cuối bài ca chính là lời của nhân dân ca ngợi, khẳng định vai trò và giá trị bất tử của những người ưu tú nhất, đã hi sinh trong chiến đấu: “niềm cuồng nhiệt của những người dũng cảm, đó là trí anh minh của cuộc đời! ôi chim ưng dũng cảm! Người đã đổ máu trong chiến đấu với kẻ thù, nhưng rồi đây những giọt máu nóng hổi của ngưòi như những tia lửa, sẽ làm bùng lên trong bóng đêm của cuộc đời và bao trái tim quả cảm sẽ rực cháy vì khát vọng cuồng nhiệt vươn tới tự do và ánh sáng”. Hình ảnh chim ưng anh hùng đối lập với hình ảnh rắn nước hèn nhát, cầu an vị kỉ không dám ước mơ, hoài bão lớn nhưng lại tự đắc là thông minh, sáng suốt. “Bài ca chim ưng” là lời kêu gọi hào hùng thúc giục con người hướng vào cuộc chiến đấu, chống lại chính quyền chuyên chế và chủ nghĩa tư bản Nga trong thời kì cách mạng đang tiến lại gần.
Cao trào cách mạng Nga đầu thế kỉ XX đã chấp cánh cho cảm hứng lãng mạn của Gorki bay cao hơn trong truyện Bài ca chim báo bão (1901). Hình ảnh chim báo bão với những so sánh táo bạo “tựa hồ như một ánh chớp đen, như một mũi tên chọc thủng các tầng mây..”, với những  tiếng thét chứa đựng lòng căm thù, khát vọng chiến đấu, hạnh phúc và niềm tin của người chiến sĩ trên nền của một cơn bão biển đang sôi sục, là tượng trưng cho nghị lực và lực lượng cách mạng vĩ đại của giai cấp công nhân Nga. Đối lập với chim báo bão là những loài chim đần độn, nhút nhát, chỉ ưa chuộng cuộc sống phong lưu an nhàn, sợ hãi mọi sự biến động. Hình ảnh chúng ám chỉ lớp tiểu thị dân tầm thường, dung tục đang sợ hãi cách mạng. Chim báo bão bay lượn ngang tàng và tự do. Nó cười nhạo mây đen, nó nức nở vui mừng và reo hò kêu gọi bão táp “dữ dội hơn nữa, bão táp háy nổi lên!”. Bài ca chim bão bão thể hiện bước khải hoàn của phong trào cách mạng Nga và tâm trạng vui mừng của hàng triệu quần chúng đang đứng lên  làm chủ cuộc đời. Tác phẩm dài khoảng một trang giấy, ngay khi nó mới ra đời đã được người ta chép tay hoặc in tới hàng triệu bản, phổ biến rộng rãi khắp nơi, nhằm cổ vũ mãnh liệt khí thế cách mạng của nước Nga. Trong bài báo mang tên “Trước cơn bão táp” Lênin đã trích dẫn lời kêu gọi của chim báo bão “Dữ dội hơn nữa, bão táp hãy nổi lên!”.
Văn học không chỉ miêu tả cuộc sống mà qua cuộc sống đó để khích lệ lòng dũng cảm và ý chí chiến đấu của con người nhằm giành lấy tương lai tốt đẹp cho họ. Truyện Về con chim yến nói dối và con gõ kiến yêu chân lí (1893). Chim yến đã kêu gọi mọi loài chim hãy tin tưởng vào bản thân “đã đến lúc các bạn phải tin tưởng vào mình “và nó khích lệ lòng tự hào, ý chí chiến đấu của mọi loài chim để có một tương lai tràn đầy ánh sáng và tự do “chúng ta không được mệt mỏi, chúng ta phải luôn luôn đấu tranh và chiến thắng tất cả để tỏ ra xứng đáng với giá trị của mình để có quyền nói rằng: tất cả quá khứ, hiện tại và tương lai chính là của chúng ta “và “con đường chúng ta phải đi… tôi tin chắc rằng…ở đấy có một xứ sở xứng đáng làm phần thưởng cho những khó khăn nhọc nhằn mà chúng ta phải chịu đựng ở dọc đường! Ở đấy, ánh sáng vĩnh viễn không bao giờ tắt, ở đấy những điều kì diệu mà chúng ta chưa từng biết…Hãy đến đấy – đến nước của hạnh phúc! Nơi chiến thắng vĩ đại đang chờ đón chúng ta, nơi chúng ta sẽ là người đang làm ra pháp luật của thế giới và là chúa tể của thế giới, nơi chúng ta sẽ là chúa tể của vạn vật…Hãy tới đấy! – tới cái tiến lên kì diệu ấy!”.
Truyện Cô gái và thần chết (1892) ca ngợi niềm tin thắng lợi của con người đối với vận mệnh. Truyện dựng lên một hình tượng cao đẹp của người thanh nữ tràn đầy sức sống, mãi mãi tươi xanh với thời gian. Trong cuộc giao tranh với thần chết cô đã chiến thắng. Ý chí khẳng định quyền được sống, được hưởng hạnh phúc của mình vang lên trong những lời ca rực lửa: “hồn ta tràn đầy sức mạnh thiêng liêng; Ánh sáng thiêng liêng rọi hồn ta cháy lửa; Trước số mệnh bạo quyền; chẳng cúi đầu khiếp sợ”. Tình yêu mãnh liệt với ý chí bảo toàn sự sống của cô đã đẩy lui được thần chết và đã trở nên bất tử “Khắp nơi nơi – ngày tang lễ cũng như ngày thành hôn; Không phút giây mệt mỏi lặng ngừng; Niềm vui tình yêu và hạnh phúc trong cuộc sống”. Sức sống bất khuất là sức sống chiến thắng! Bao niềm tin yêu vào sinh lực tươi xanh của cuộc sống, ở khả năng đấu tranh của con người chan chứa trong bản trường ca.
Giữa lúc trong thực tế đã bắt đầu nổi lên khuynh hướng phát triển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa do Lênin và Đảng Bônsêvich chủ trương, Gorki bằng nghệ thuật đã phát biểu về sự cần thiết phải đoàn kết tất cả những người lao động trong một tổ chức chính trị chặt chẽ để tiến hành một cách có hiệu quả cuộc đấu tranh vì tự do trong truyện Đồng chí (1906). Đồng thời, qua tác phẩm Gorki còn ca ngợi sự đoàn kết nhất trí của giai cấp vô sản Nga trong cuộc cách mạng 1905, nhất là trong cuộc tổng bãi công của công nhân toàn nước Nga tháng 10.1905.
Trong tác phẩm Người độc giả (1895) Gorki đòi hỏi văn học phải “nói đến những quay cuồng trong đầu óc con người, đến sự cần thiết hồi sinh của trí tuệ”, phải lên tiếng “kêu gọi làm cho cuộc đời thắng lợi”, phải cho con người những bài học dũng cảm những dòng chữ sôi nổi chấp cánh cho tâm hồn” để khích lệ con người đã bị cuộc sống dơ bẩn làm nhục chí và đẩy vào cảnh sa đọa”
Trong truyện Những mẩu chuyện nước Ý (1906-1913), Gorki đã dùng chất liệu Ý để miêu tả những thời điểm – khi mà con người do nhiều nguyên nhân đã biểu hiện một cách kì diệu tựa như trong truyện cổ tích – những tình cảm và tư  tưởng sẽ là đặc điểm điển hình của tập thể loài người trong xã hội tương lai. Đó là tinh thần đoàn kết giữa giai cấp vô sản và nhân dân lao động, là sức mạnh, lòng nhân đạo là niềm tin vào thắng lợi, là đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người lao động, cuộc sống đầy chất thơ và vẻ đẹp của một dân tộc có nền văn hóa lâu đời…Gorki muốn nêu lên sự đối lập những khía cạnh của thực tế Ý với cuộc sống bình lặng ở Nga, nhằm cổ vũ tinh thần của nhân dân Nga trong cuộc đấu tranh cánh mạng. Cũng chính vì thế mà lời đề của tác phẩm ông đã lấy câu nói của Anđerxen “Không có truyện cổ tích nào hay hơn là những chuyện do chính cuộc sống tạo ra”.
Không những viết về những người anh hùng, kiêu hãnh, phi thường…Gorki còn viết về những người lao động bình thường thể hiện rõ nét những yếu tố lành mạnh, giàu sức sáng tạo đang tiềm tàng trong nhân dân Nga. Trong truyện Một con người ra đời (1912) tác giả đã miêu tả sự ra đời của một con người như một sự kiện thiêng liêng. Nó đem lại niềm vui lớn cho người mẹ và cho cả thiên nhiên hùng vĩ tuyệt đẹp. Người mẹ thì “đôi mắt không đáy của chị tươi rói lên một cách kì lạ, cháy bừng lên một ngọn lửa xanh biếc”, trước mắt người mẹ là một con đường dài, chị tin rằng trên con đường đó “em bé kháu khỉnh con tôi kia sẽ lớn dần lên áp vào vú mẹ nó mà lớn mãi trong tự do”. Còn tác giả thì khi “người công dân mới của nước Nga “ ấy ra đời thì khuyên “ hãy làm ầm ĩ lên chú bé tỉnh Oren! Hãy lớn tiếng mà chứng tỏ sự có mặt của mình, bằng không thì mọi người sẽ lấn tới vận cổ chú mình” và sóng biển cũng “phả bọt lên…vui vẻ” đón chào con người mới. Mọi đau đớn của người mẹ lúc sinh nở, mọi lo lắng cho số phận tương lai của đứa con đều bị chìm sâu trước niềm vui sướng của sự sáng tạo thiêng liêng, của niềm tin vào sức mạnh con người “rồi đột nhiên, chị khẽ kêu lên một tiếng, im bặt rồi laị mở mắt ra, đôi mắt đẹp vô cùng, đôi mắt thần thánh của người sản phụ. Xanh biếc, đôi mắt ấy nhìn lên bầu trời xanh biếc, trong đôi mắt bừng lên và hòa tan một nụ cười hoan hỉ biết ơn, nhấc cánh tay nặng trĩu, người mẹ làm dấu thánh cho mình và cho con”. Mặc dù trong hiện thực đen tối của nước Nga những năm đói kém nhưng con người đã ra đời, bất chấp tất cả và nhất định sẽ phản kháng lại mọi sự thù địch, khẳng định địa vị của mình trên trái đất.
Qua hình ảnh người thợ mộc Ôxip trong truyện Băng chuyển (1912) Gorki không những cho độc giả thấy được những khả năng to lớn đang ẩn náo trong tính cách đân tộc Nga mà ông còn muốn đặt vấn đề về sự cần thiết phải giải phóng con người ra khỏi những xiềng xích nặng nề của lao động nô lệ “
Miêu tả tính cách dân tộc Nga trong hoàn cảnh “nghèo nàn cay cực” của xã hội Nga trước cách mạng, Gorki đặt ra vấn đề chủ nghĩa nhân đạo, về lí tưởng và hiện thực, về ước mơ và thực tế, về thái độ cần thiết phải có của con người trước nỗi đau khổ của đồng loại qua truyện ngắn Lenka ( Xtraxli – Morđaxti, 1917).
Cuộc đời cơ cực và tăm tối không thể dập tắt được những tia sáng ước mơ trong tâm hồn con người. Giữa cảnh đời sầu thảm vẫn không thiếu những con người đi tìm đi tìm hạnh phúc. Nhưng khi ánh bình minh của chân lí còn chưa rọi tới thì bao nhiêu ảo mộng, ước mơ đã tan biến. Cô gái Tachyana trong truyện Người đàn bà (1912) chỉ muốn xây dựng một hạnh phúc nho nho nhỏ trong cuộc sống đơn giản, bình yên. Thế mà ước mơ nhỏ bé này chị cũng không thể thực hiện được. Tachyana cô đơn và đau khổ giữa những con người. Nhưng chị thương xót cho mình thì ít mà thương xót cho sức người, cho tuổi trẻ bị hoài phí, cho cái kiếp người thống khổ thì nhiều. Vì lòng thương người chị đã phung phí chất nhựa sống của mình, đã phạm tội và đã bị đày đi Xibiri.
Truyện Mối tình đầu kể về cuộc tình của tác giả với “người phụ nữ đầu tiên đầu tiên“, O.IukaminXkaia, ở Nigiơni Novogod từ năm 1889 – 1892. Trong những năm bế tắc ấy đối với Gorki hình ảnh người phụ nữ này mang nhiều tính chất lí tưởng và thần tượng đối với ông. Ông cho rằng “ chính người đàn bà này không những giúp tôi cảm biết được hết cái bản ngã thật của mình, mà nàng còn có thể làm một điều gì thần diệu và sau đó tôi sẽ lập tức thoát ra khỏi giam cầm của những ấn tượng đen tối của cuộc sống, sẽ vĩnh viễn vứt bỏ một cái gì đó ra khỏi tâm hồn  và tâm hồn tôi sẽ bừng lên một ngọn lửa của một sức mạnh lớn lao, của một niềm vui vĩ đại”. Nhưng sau khi chung sống với người phụ nữ đầu tiên này, ông đi đến kết luận là không thể tiếp tục chung sống với người phụ nữ ấy được nữa. Bởi vì nàng cũng đang lẩn quẩn trong sự tìm tòi “cái thú vị” trong những con người bình thường, đang đợi chờ một cái gì tốt đẹp trong cuộc sống. Đôi khi nàng mới “nhen nhóm được trong đôi mắt đờ đẫn của  một con người tẻ nhạt một cách vô hi vọng cái tia sáng nhạy bén của một ý nghĩ sắc sảo, những điều này thường thấy hơn là nàng nhen nhóm lên cái dục vọng lì lợm muốn chiếm hữu nàng”. Và đương nhiên con người đó không thể làm được một điều gì thần diệu và cũng không thể đưa tác giả thoát khỏi cảnh đời bế tắc.
Chủ đề về sự hình thành tính cách con người là một trong những chủ đề quan trọng trong sáng tác của M.Gorki. Truyện Sách (1915), truyện Tôi đã học tập như thế nào (1918) không chỉ nói đến việc hình thành tính cách của tác giả  thời thơ ấu, thời niên thiếu, thời thanh niên mà còn góp phần giải quyết vấn đề tính cách dân tộc Nga nói chung. Đối với Gorki, sách vở là người bạn tri kỉ, là người thân yêu trong cảnh cô đơn, trong cuộc sống địa ngục chán chường, đơn điệu mà thỉnh thoảng người ta lại khuấy động lên bằng những trò man rợ. Sách là cái chìa khóa mở cửa cho ông vào một thế giới mới ”nơi mà mọi cái đều hợp lí hơn”, nhưng sách cũng không làm cho ông trốn tránh cuộc đời thực, xa lánh mọi người mà ngược lại, nó còn cho ông lòng tin vào, kích thích thái độ của ông đối với cuộc sống, khát vọng muốn cải tạo hiện thực, và làm cho con người tốt đẹp hơn. Vì “mỗi cuốn sách là một bậc thang nhỏ mà khi bước lên tôi tách khỏi con thú để vươn tới gần con người”. Và ông kêu gọi “hãy yêu sách, nó là nguồn hiểu biết, chỉ có hiểu biết mới là con đường sống, chỉ có nó mới có thể làm cho chúng ta trở thành những người kiên nghị, chính trực, khôn ngoan có khả năng thành thật yêu mến con người, tôn trọng lao động của con người và thành tâm khâm phục những thành quả tuyệt vời do công trình lao động vĩ đại liên tục của  con người tạo nên” (Tôi dã học tập như thế nào).
Truyện ngắn Sách (1915), và truyện Tôi đã học tập như thế nào (1918) còn thể hiện một chủ đề mới mẻ – giai cấp vô sản phải học tập, nâng mình lên ngang tầm trí tuệ nhân loại thì mới có thể đảm trách sứ mệnh lịch sử của dân tộc và nhân loại.
Có thể nói những tác phẩm lãng mạn của Gorki là những bản tuyên ngôn khẳng định lòng tin yêu vào cuộc sống và con người, về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể. Gorki đã kế thừa truyền thống lãng mạn tiến bộ của văn học quá khứ và đã xây dựng nên những tác phẩm thể hiện những cảm hứng rất mới mẻ, phản ánh những khát vọng của nhân dân khi phong trào cách mạng vô sản đang dâng dậy. Cảm hứng lãng mạn trong truyện ngắn của Gorki tràn đầy tính lạc quan cách mạng tươi trẻ, mạnh mẽ.
2. Truyện ngắn hiện thực
Ngay ở thời kì đầu, Gorki không những là cây bút lãng mạn có sức rung cảm mạnh mẽ mà ông còn là cây bút hiện thực lỗi lạc. Trong những năm tháng tự lực lao động kiếm sống trước mắt Aliôsa bày ra một cảnh “hỗn độn hoang dã, sự sôi sục của những mâu thuẫn nhiều vô số và không sao hòa hoãn được, nhỏ có lớn có, cả cái khối mâu thuẫn đó tạo thành một tấn bi hài kịch quái gở trong đó lòng tham của con người đóng vai trò chính”. Chính những mâu thuẫn đó đã để lại trong tâm trí nhà văn những ấn tượng day dứt như “một cục trong họng ” không viết, không khắc họa chúng bằng ngôn từ thì không chịu nổi. Đó chính là động cơ giúp Gorki viết hàng loạt truyện ngắn hiện thực sinh động, độc đáo.
Khi viết về đề tài đời sống, tư tưởng tình cảm của nhân dân Nga, bản lĩnh của Gorki được thể hiện rõ ràng và được khẳng định ngay từ đầu. Chủ đề chính trong các tác phẩm này là cuộc sống của những người cùng khổ, đặc biệt là những người du thủ du thực. Ở họ có những phẩm chất tốt đẹp nhưng không ít hạn chế mà nhà văn đã phê phán không thương tiếc. Ông chú ý tới thế giới nội tâm phong phú đa dạng của những người cùng khổ, nhất là những mầm móng của ý thức xã hội mới nảy sinh, sự phản kháng tự phát, âm thầm ngày càng mạnh, niềm mơ ước về một cuộc sống tốt đẹp hơn đang âm ỉ cháy trong lòng những con người ở “dưới đáy” xã hội này.
Truyện ngắn Emelian Pilai (1893) cho ta thấy trật tự xã hội bất công đã đẩy Emelian tới chổ cùng đường, anh không thể tìm được việc làm. Anh cảm thấy rằng chỉ có một lối thoát duy nhất là đi giết người cướp của để giành lấy một chỗ đứng cho mình trong cuộc đời. Nhưng khi gặp cảnh đau khổ của một cô gái đáng thương, anh đã khắc phục được những ý nghĩ tội lỗi nhất thời đó và thể hiện bản chất tốt đẹp, cao thượng vốn có của người lao động. Truyện đã tố cáo bọn thống trị dã man, tàn nhẫn đã tước đoạt mọi quyền hành của người lao động, kể cả quyền tối thiểu đồng thời cũng là phương tiện duy nhất để sinh sống của họ – quyền được lao động.
Truyện Làm muối (1893) Gorki lại đưa ra một vấn đề khác. Đó là sự áp bức bóc lột, lao động khổ sai, đã làm cho con người phẫn nộ. Nhưng vì không biết trút sự bực tức của mình vào đâu nên giữa những con người này đã nảy sinh tính tàn nhẫn và độc ác với nhau. Truyện ngắn Lão Arkhip và bé Lionka (1893) nói lên sự xung đột trong ý thức của những người nghèo khổ. Trong tâm hồn của cậu bé Lionka đã bừng dậy những phẩm chất tốt đẹp, nhưng nó còn quá yếu đuối và non nớt. Nó chưa đủ sức chống lại những thành kiến lạc hậu của xã hội cũ mà lão Arkhip đã tiếp thu và cố gắng thực hiện trong đời sống của mình. Sự xung đột đó đã dẫn đến cái chết đầy bi thảm của hai ông cháu ăn mày bần cùng và bất lực.
Kônôvalôp (truyện cùng tên viết năm 1896) là một thanh niên nướng bánh mì, lực lưỡng, đẹp trai, làm việc “khéo léo như một nghệ sĩ ”, có tấm lòng thương người, có một thế giới tâm hồn phong phú và nhạy cảm trước cái đẹp. Anh đã nghĩ nhiều đến nỗi đau khổ của mình và của người đời, về mục đích và ý nghĩa của cuộc đời. Kônôvalôp không thấy được nguyên nhân nỗi đau khổ của mình và của nhiều người khác. Anh đã lí giải nó một cách sai lầm. Anh cho rằng sở dĩ mình sống cuộc đời tẻ nhạt và buồn chán là bởi vì mình là người thừa trên trái đất, mình không tìm thấy điểm tựa cho mình trong cuộc đời. Và anh đã đi vào con đường nghiện ngập, du đãng rồi cuối cùng  tự tử.
Còn cô gái Manva xinh đẹp, đầy kiêu hãnh, khoẻ mạnh trong truyện cùng tên (1897) đã rời bỏ làng quê ngột ngạt đi ra vùng bờ biển để tìm một cuộc sống tự do. Nhưng sau một hồi vùng vẫy, cuối cùng cô chỉ thấy bế tắc và tuyệt vọng. Truyện Hai mươi sáu anh chàng và một cô gái  (1899) nói đến cảnh lao động khổ sai của 26 anh thợ làm bánh mì đã tự dựng lên một thần tượng về con người đẹp, trong sạch giữa cảnh đời bẩn thỉu, tối tăm. Nhưng rồi cái ảo ảnh ấy cũng đã bị thực tế phũ phàng làm cho tan vỡ.
Nhân vật người kể chuyện trong tác phẩm Người bạn đường của tôi (1894) trong thời gian này đã dứng cao hơn những người xung quanh. Nhưng tư tưởng của anh và ý thức của đông đảo quần chúng còn rất xa nhau. Và trong truyện ngắn Câu chuyện một ngày thu (1895) nhân vật này đã trải qua những tình huống éo le do sự bất lực của bản thân trước hoàn cảnh. Anh ta chỉ còn biết than thân trách phận.
Truyện Tsencase (1894) là tác phẩm lớn của Gorki viết về những người du thủ du thực. Nhân vật chính là Tsencase, một kẻ cắp khét tiếng ở bến tàu. Xuất thân là nông dân, Tsencase đã từng là một chàng lính cận vệ đẹp trai, nhưng 11 năm trời đi du đãng đã làm y quên hết những gì thuộc về quá khứ. Bây giờ y là một kẻ cắp, y cần tiền để được tiêu xài thoải mái và sống một cuộc đời tự do. Y khinh những kẻ tư hữu tham lam, những kẻ nô lệ của đồng tiền. Đối lập với Tsencase là Gvarila, gã nông dân trẻ tuổi đi lang thang tìm cách kiếm tiền sinh sống và về quê xây dựng một cơ ngơi. Vì tiền Gavrila sẵn sàng phạm tội ác. Gã định giết chết Tsencase, kẻ đã giúp gã kiếm ăn, để đoạt lấy số tiền 500 rup. Cuộc xung đột giữa Tsencase và Gavrila ở cuối truyện càng làm nổi bật lên lòng hào hiệp, phẩm chất cao đẹp của TsenKasơ, một con người đã bị vứt ra ngoài rìa cuộc đời bên cạnh sự đê tiện, hèn hạ, lòng tham lam của kẻ đại diện cho tư tưởng tư sản – Gavrila.
Tác phẩm hiện thực tiêu biểu nhất trong sáng tác thời kì đầu của Gorki là  truyện Vợ chồng Orlôp (1897). Tác phẩm nói về cuộc sống tối tăm, nghèo nàn đơn điệu và không mục đích của hai vợ chồng người thợ đóng giày. Do buồn chán, Orlôp thường xuyên uống rượu và đánh vợ. Anh từng nghĩ đến số mệnh nhưng có lần anh đã cưỡng lại nó. Đó là lúc anh quyết định cùng vợ xin vào làm ở bệnh viện và anh mơ ước lập chiến công thầm lặng nhưng vẻ vang. Anh ước mơ “giải phóng nước Nga khỏi nạn dịch tả”. Nhưng cuộc sống tầm thường hằng ngày đã chặt đứt bao ước mơ của anh. Anh bế tắc và không có lối thoát. Cuối cùng anh trở lại với rượu chè và đánh vợ và anh đã rời bỏ bệnh viện để đi du đãng. Cuối tác phẩm là cuộc gặp gỡ giữa Orlôp và tác giả trong một quán rượu rẻ tiền và anh đã kể cho tác giả nghe câu chuyện đáng buồn trên. Sự phản kháng của Orlôp trong phút chốc đã xẹp ngay. Anh không bằng lòng với thực tại tối tăm nhưng anh lại không làm được cái gì lớn lao ( chữa bệnh dịch – cải tạo xã hội). Đó chính là tấn bi kịch của anh và của tất cả người du thủ du thực.
Nhân vật tích cực trong các tác phẩm hiện thực thời kì này là tác giả – người kể chuyện. Nhưng đây chỉ là một người nghèo khổ chưa phải là một công nhân có trình độ giác ngộ cao. Mầm mống ý thức giai cấp có thể thấy ở anh thợ xếp chữ Gvôzđiep ( truyện Kẻ phá bĩnh, 1897). Nhưng sự phản kháng của Gvôzđiep cũng chỉ là một hành động đơn độc, tự phát, không có tổ chức. Gvôzđiep chưa phải là người anh hùng lí tưởng của Gorki.
Trong các truyện ngắn hiện thực của Gorki những năm 90, mặc dù ông  chưa xây dựng được hình ảnh hoàn chỉnh về người công nhân cách mạng nhưng ông đã miêu tả được sự phản kháng ngày càng mạnh mẽ của quần chúng. Hơn nữa, Gorki cũng là nhà văn đầu tiên đưa vào trong sáng tác của mình một khí thế chiến đấu mới, tinh thần dũng cảm lập chiến công, anh hùng mới và hơi thở của phong trào quần chúng đang bắt đầu sôi sục khi cơn bão táp cách mạng sắp nổ ra.
Sự phân chia các tác phẩm của Gorki thành những truyện ngắn hiện thực và truyện ngắn lãng mạn như trên chỉ mang tính tương đối. Nó không có một ranh giới cụ thể rõ ràng nào cả mà chủ yếu dựa vào cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm. Chất lãng mạn và hiện thực ở đây luôn có sự xâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau. Trong tác phẩm lãng mạn có yếu tố hiện thực và trong tác phẩm hiện thực có yếu tố lãng mạn, chỉ có điều là nó đậm hay nhạt mà thôi.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét